HỆ THỐNG DU LỊCH THÔNG MINH TỪ XA ĐIỆN BIÊN



Đền Hoàng Công Chất
Địa chỉ làng Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư
Tour liên quan

Một địa điểm du lịch nữa, du khách sẽ không thể bỏ qua, đấy là đền Hoàng Công Chất. Tại đây, du khách sẽ được nghe kể về cuộc đời và những chiến công lừng lẫy của ông "Vua Hoàng", cái tên mà dân tộc Thái tôn kính gọi ông. Hoàng Công Chất  (Mất năm 1769) quê ở Nguyên Xá - Vũ Thư -Thái Bình là thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài lớn giữa thế kỷ 18, chống lại triều đình vua Lê (chúaTrịnh) trong suốt 30 năm.

1. Lịch sử ra đời Đền Hoàng Công Chất.

1.1. Tướng quân Hoàng Công Chất với công cuộc bảo về đất nước

Theo sách Minh đô sử, ông còn có tên là Hoàng Công Thư, Hoạt động ở Sơn Nam. Năm 1739, Hoàng Công Chất - người anh hùng áo nâu đã tập hợp nông dân nghèo nổi dậy hoạt động ở vùng Sơn Nam. Nghĩa quân có sở trường về thuật đánh du kích “Khi tan, khi hợp”. Để tăng cường lực lượng và binh chống lại triều đình họ Trịnh thời Lê mạt, từ năm 1739 đến 1741, Hoàng Công Chất luôn liên kết với các lãnh tụ khởi nghĩa nông dân khác như: Vũ Đình Dung, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ(1) hoạt động chiến thuyền khắp vùng hạ lưu sông Hồng. Năm 1739, viên đốc lãnh Sơn Nam Hoàng Kim Tào tiến đánh nghĩa quân nhiều lần không được. Năm 1740, Trịnh Doanh chia quân ra làm 3 đạo và cử Cao Quận công Trịnh Kinh tiến đánh theo đường bộ, Trịnh quận công Hoàng Công Kỳ và Nhạc thọ hầu Phạm Trần Công cầm đầu đánh hai cánh thuỷ binh, tiến dọc hai bờ sông Hồng; về sau họ Trịnh lại cử Nguyễn Trọng Cảnh thống lĩnh cả đạo quân đóng đồn ở huyện Thượng Nguyên (nay thuộc tỉnh Nam Định) để chế ngự các mặt. Cùng năm ấy, Trịnh Doanh lại phái đốc trán Vũ Tà Liên và Đõ Doãn Thành hợp binh đánh vào Đông An, huyện Khoái Châu (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) nhưng không thắng nổi nghĩa quân.

Đến năm 1743, Trịnh Doanh sai thống lĩnh Trương Nhiêu tập trung quân đánh vào nghĩa quân, nhưng không thành. Cuối năm ấy (1743), Hoàng Công Chất trá hàng, tạo thời cơ chấn chỉnh lực lượng. Trịnh Doanh bằng lòng ban quân tước cho Hoàng Công Chất quản lĩnh một khu vực Sơn Nam nhưng với điều kiện Chất phải giải binh và về triều yết bái. Tuy nhiên, Hoàng Công Chất không nghe và chiếm lấy Khoái Châu, tiếp tục chống chúa Trịnh.

Hoàng Công Chất vẫn chiếm giữ Khoái Châu suốt hai năm 1744 – 1745. Cuối năm 1745, Hoàng Công Chất cho quân tập kích bắt sống Hoàng Công Kỳ. Chiến thắng này cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chống chúa Trịnh của nông dân Sơn Nam. Từ năm 1746- 1748, Hoàng Công Chất phối hợp với Nguyễn Hữu Cầu hoạt động ở vùng Sơn Nam, có lần đã bao vây chiếm phủ Ngự Thiên (tức huyện Hưng Nhân sau này, thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Đến cuối năm 1748, sau khi tấn công vào thành Thăng Long bị thất bại, Nguyễn Hữu Cầu về Sơn Nam hợp lực với nghĩa quân Hoàng Công Chất cùng chiến đấu. Chúa Trịnh tập trung quân đánh vào Sơn Nam. Trước sự tấn công mạnh mẽ của triều đình, nghĩa quân bị thất bại. Hoàng Công Chất phải chạy vào Thanh Hoá, liên kết với phong trào Lê Duy Mật (một hoàng thân của nhà lê bất mãn với chúa Trịnh chống lại Triều đình), còn Nguyễn Hữu Cầu thì vào Nghệ An. Đến năm 1751, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương(3) bị quân triều đình bắt được và bị tử hình, phong trào nông dân tạm lắng xuống. Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật ở vào thế khó khăn, buộc phải chuyển địa bàn lên miền Trung du và Thượng Du. Hoàng Công Chất từ miền Thượng Du Thanh Hoá tiến lên hoạt động ở Tây Bắc.

Nghĩa quân Hoàng Công Chất đang từ dưới xuôi rút lên đã phối hợp với quân của thủ lĩnh người Thái là tướng Ngải, tướng Khanh (Cương mụ có chép Chất liênkết với thủ lĩnh Thành. Có lẽ là một trong hai người này) đánh giặc Pháp cứu dân, bảo vệ miền biên giới tổ quốc.

Sau khi giải phóng được Mường Thanh, Hoàng Công Chất tính đường cố thủ lâu dài để chống lại triều đình dưới xuôi và chống ngoại xâm. Lúc đầu, Hoàng Công Chất đóng quân ở thành Tam Vạn. Sau đó, nhận thấy thành tuy rộng nhưng cách bố phòng quá sơ sài, không hợp với các vũ khí mới xuất hiện thời đó như súng thần công, súng hoả mai… lại không hợp với sự phòng thủ từ mặt Lào sang cũng như từ xuôi đánh lên. Hoàng Công Chất quyết định xây đền Chiềng Lề (nay gọi là thành Bản Phủ thuộc xã Mong Hẹt, Điện Biên). Thành này là một kỳ công của Hoàng Công Chất. Thành rộng 80 mẫu, dựa lưng vào dòng sông Nậm Rốn, có đường thành đắp bằng đất trồng tre gai đem từ Thanh Hoá lên vây kín, bên ngoài có hào rộng 4-5m, sâu 10m. Thành cao 5m, mặt thành rộng từ 4-6m, trên đó voi ngựa đi lại được. Thành có bốn cửa tiền, hậu, tả, hữu, ở mỗi cửa có đắp đồn cao, có vọng tiêu và lính gác. Trong thành có khu ngoại vi là nơi lính đóng. Ở đây, Hoàng Công Chất cho đào tới 133 giếng và ao hình dạng khác nhau: vuông, tròn, tam giác, lục giác, bát giác để trữ nước cho quân lính dùng. Hiện còn thấy di tích nơi nhà ở của quân lính, nơi làm kho lương, kho vũ khí, nơi chăn ngựa, giữ voi. Giữa thành có phủ là nơi các thủ lĩnh nghĩa quân đóng.

Trong khoảng thời gian từ 1754-1769, Hoàng Công Chất một mặt củng cố miền Mường Thanh, mặt khác mở rộng thế lực ra toàn sông Mã, sông Đà, sông Hồng. Từ Mường Thanh, Hoàng Công Chất đánh chiếm lại miền Thập Châu thuộc An Tây xưa đã bị bọn quan lại trung Quốc, tỉnh Vân Nam cướp đoạt từ trước, tức các châu: Chiêu tấn (vùng Sìn Hồ hiện nay): châu Quỳnh Nhai; Châu Lai (Mường Lay, Mường Tè, Mường Xo tức Phong Thổ hiện nay). Luân Châu (một phần huyện Tuần Giáo hiện nay và khu vực Mường Mùn) thuộc tỉnh Lai Châu (nay thuộc tỉnh Điện Biên) và các đất Quảng Lãnh, Hoàng Nham, Hợp Phì, Lễ Toàn, Tuy Phụ, Khiếm Châu nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Nghĩa quân còn lập thế ỷ dốc với nghĩa quân của Lê Duy Mật lúc đó lập căn cứ ở núi Trình Quang, thuộc tỉnh Trấn Ninh. Sử sách cũ chép có nhiều lần hai toán nghĩa quân này với nhau khống chế suốt một dải miền Thượng Thanh Hoá, Nghệ An đến miền Hưng Hoá tức miền Tây Bắc ngày nay, Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật lại uy hiếp triều đình bằng những cuộc tập kích vào vùng sông Thao, mạn Sơn Tây. Hoàng Công Chất chiếm toàn bộ 12 Châu Thái, tức miền Sơn La, Nghĩa Lộ và Bắc Hoà Bình. Các tù trưởng Thái như: Bun Phanh, Hà Công Ứng và tù trưởng Mường như Đinh Công Hồ chống lại nhưng đều bị thua.

Thế là toàn thể các chúa đất cả một dải sông Đà, sông Thao, sông Mã đều thuần phục Hoàng Công Chất và không chịu cống nạp về triều đình nữa. Mường Thanh trở nên khu trung tâm văn hoá, chính trị của đất Tây Bắc.

Trong thời gian ở Mường Thanh, công to nhất của Hoàng Công Chất là giữ yên bờ cõi Tổ quốc, tránh được nạn xâm lăng của người Miến vào năm 1753-1765 đô hộ toàn vương quốc Luông Pha Băng và uy hiếp an ninh của vài nước xung quanh trên bán đảo Đông Dương. Hoàng Công Chất lại khống chế được những cuộc nhũng nhiều, lấn đất, cướp bóc của bọn giặc cỏ từ phương Bắc với sự dung túng của bọn quan lại phong kiến Trung Quốc, đồng thời hoạt động rất mạnh chống lại triều đình Lê Trịnh đã thối ruỗng. Ông thường liên kết với nghĩa quân Lê Duy Mật tiến đánh những miền Thanh Hoá, Sơn Tây… cuối năm 1767, ông đem tới hơn một vạn quân vượt qua Mộc Châu, Mai Châu tiến sâu vào vùng miền Trung du Thanh Hoá. Nghĩa quân đến đâu đều được nhân dân địa phương nhất tề nổi dậy hưởng ứng, làm cho quan quân Lê trịnh vô cùng hoảng sợ. Cuối năm 1767, Hoàng Công Chất mất. Tiếp tục sự nghiệp của Hoàng Công Chất, con ông là Hoàng Công Toản lên thay, tự xưng là Quốc Công và duy trì đến 1769 mới dứt… Mường Thanh lại thuộc về triều đình Lê Trịnh.

1.2. Sự hình thành khu di tích Thành Bản Phủ và Đền Hoàng Công Chất

Di tích Thành Bản Phủ thuộc xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên được xây dựng vào những năm 1758 đến 1762, cách thành phố Điện Biên Phủ 12km về phía Nam.

Hình 5.1: Thành Bản Phủ.

Thành là chứng tích ghi dấu mốc lịch sử về công cuộc đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng Mường Thanh do tướng Hoàng Công Chất lãnh đạo vào thế kỷ 18

Đền thờ Hoàng Công Chất được xây dựng ở trung tâm thành  Bản Phủ. Đây là nơi ghi nhận công lao to lớn của Hoàng Công Chất - người có công xây dựng và bảo vệ miền biên cương, chống lại sự xâm lăng của giặc ngoại bang lúc bấy giờ. Và từ đó đến nay, hàng năm cứ đến ngày 25 tháng 2 âm lịch (ngày mất của Hoàng Công Chất), hội đền lại được mở bằng một nghi lễ trang nghiêm, những trò chơi dân gian truyền thống để tưởng nhớ Hoàng Công Chất.

 

 

Hình 5.2. Đền thờ hoang Công Chất trong ngày hội đền

2. Vẻ đẹp và những nét văn hóa của khu di tích Đền Hoàng Công Chất

2.1. Vẻ đẹp Đền Hoàng Công Chất

Đền Hoàng Công Chất nằm ở trung tâm của thành Bản Phủ, nhắc đến đền thờ Hoàng Công Chất là phải nhắc đến thành Bản Phủ. Theo các tài liệu lịch sử, và trong sử sách của người Thái, Hoàng Công Chất được gọi là "vua Hoàng" . Sách Lịch sử Việt Nam (tập 1) có ghi “…Nghĩa quân của Hoàng Công Chất từ Sơn Nam tiến dần lên miền Hưng Hoá. Tại đây, Hoàng Công Chất được các dân tộc thiểu số Tây Bắc hết lòng ủng hộ. Hoàng Công Chất không những lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh chống chế độ phong kiến mà còn kiên quyết đánh lùi các cuộc xâm lấn, cướp bóc của nước ngoài, làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương phía Tây của tổ quốc. Phong trào nông dân từ chỗ đánh đổ trật tự phong kiến đã vươn lên đảm đương lấy nhiệm vụ bảo vệ đất nước, xây dựng cuộc sống cho nhân dân. Do những thành tích xuất sắc đó, Hoàng Công Chất được các dân tộc tây Bắc khâm phục và quý mến. Cuộc khởi nghĩa nhờ vậy mà kéo dài đến năm 1769”.

Để bảo vệ lực lượng và nhân dân Hoàng Công Chất đã cho xây thành Bản Phủ. Thành Bản Phủ được xây dựng từ năm 1758 - 1762. Thành rộng hơn 80 mẫu, dựa lưng vào sông Nậm Rốm; chân thành rộng 15m, mặt thành rộng 5m, cao 15m; tường thành đắp bằng đất; trồng 3 vạn gốc tre gai đem từ miền Tây Thanh Hóa lên; hào sâu rộng 4 - 5 thước. Có thuyết nói rằng trên mặt thành ngựa, voi có thể đi lại được. Thành có các các cửa: tiền, hậu, tả, hữu. Mỗi cửa có đồn cao và vọng gác... Cũng trong khoảng thời gian này, nghĩa quân Hoàng Công Chất vừa xây dựng Thành Bản Phủ vừa hoạt động ra khắp 10 châu của phủ An Tây, phía bắc đến tận vùng Vân Nam (Trung Quốc), phía nam đến tận Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá ngày nay. Năm 1769, quân Trịnh tấn công Mường Thanh, xóa bỏ vùng cát cứ của Hoàng Công Toản (con Hoàng Công Chất), đánh úp và phá hủy Thành Bản Phủ.

Tưởng nhớ công ơn người anh hùng áo nâu Hoàng Công Chất và Tướng Lò Ngải, Lò Khanh, nhân dân trong vùng đã xây đền đúc tượng để tôn thờ và hàng năm đều mở hội cúng tế, tưởng nhớ đến vị lãnh tụ khởi nghĩa Hoàng Công Chất. Ngày nay, tại làng Hoàng Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quê hương ông, nhân dân đã tạc tượng dựng đền thờ phụng. Vào ngày 12/4 hàng năm chính quyền, nhân dân địa phương và bà con thân thuộc đến dâng hương tưởng niệm.

Năm 1981 và năm 1994, di tích thành Bản Phủ, đền Hoàng Công Chất lần lượt được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng và công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia.

          Di tích Thành Bản Phủ - Đền thờ Hoàng Công Chất hiện được giữ gìn, bảo vệ và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử, văn hóa của du khách trong và ngoài tỉnh; đã và đang trở thành một địa điểm sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, tâm linh quan trọng của đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên, đồng thời là một địa chỉ du lịch hấp dẫn của du khách.

Theo cơ quan chức năng đánh giá, Lễ hội Đền thờ Hoàng Công Chất - Thành Bản Phủ được tổ chức với quy mô lớn nhất trong các lễ hội của tỉnh Điện Biên. Lễ hội Đền thờ Hoàng Công Chất - Thành Bản Phủ ngoài ý nghĩa là một hoạt động tín ngưỡng, còn là sự kiện văn hóa nhằm duy trì và phát huy những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên địa bàn. Việc tổ chức lễ hội cũng là dịp giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc; khơi dậy tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc

 

Hình 5.3: Bia tưởng niệm tại đền thờ

Hình .5.4: Gốc đa cổ thụ trong Thành Bản Phủ

Hình 5.5: Khuân viên trong đền Hoàng Công Chất

 

Hình 5.6: Cây đa trong sân đền Hoàng Công Chất

Nét Đặc trưng của đền thờ Hoàng Công Chất.

Đền Hoàng Công Chất nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết giữa miền xuôi, miền ngược tổ chức đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và 250 năm Ngày nghĩa quân Hoàng Công Chất với sự hỗ trợ của dân binh địa phương đánh đuổi giặc cướp, giải phóng Mường Thanh. Sau thắng lợi này, từ năm 1758 đến 1762, nghĩa quân và nhân dân đã xây thành Bản Phủ, một công trình kiến trúc quân sự trấn thủ vùng biên cương. Tòa thành nằm giữa trung tâm cánh đồng Mường Thanh trù phú, vựa thóc lớn của cả vùng Tây Bắc. Theo dân gian truyền lại thì thành được xây dựng khá kiên cố với hào sâu và lũy tre dày đặc phía ngoài chân tường.

 Hiện nay, dấu tích vòng tường thành vẫn còn hiện hiển. Hai năm qua, tỉnh Điện Biên (trước đây là tỉnh Lai Châu) và Bộ Văn hóa - Thông tin đã đầu tư kinh phí trùng tu, nâng cấp, sửa chữa các hạng mục di tích khu vực thành Bản Phủ - đền Hoàng Công Chất với phương hướng xây dựng nơi đây trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng và du lịch hấp dẫn, đáp ứng tình cảm và lòng mong muốn thiết tha của nhân dân các dân tộc Điện Biên. Việc trùng tu đã hoàn thành giai đoạn ban đầu, thể hiện được một phần quá khứ lịch sử và tôn vinh công đức của người anh hùng nông dân. Nhiều công trình được xây mới, trong đó có cổng thành Bản Phủ khá bề thế, mang nét kiến trúc cổ, phù hợp cảnh quan, bên trên cổng thành có kỳ đài và vọng thành để hóng gió và ngắm cảnh. Từ đây, du khách có thể ngắm nhìn phong cảnh toàn vùng với những mái nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện sau rặng tre xanh và cánh đồng lúa trải dài, ngút ngát tầm mắt. Khu vực bên trong thành có nhà sàn văn hóa đủ sức chứa hàng trăm người, hai bên tường thành là ao sen kè đá chung quanh cùng hệ thống đường gạch và sân bãi rộng phục vụ cho những hoạt động văn hóa, lễ hội, vui chơi và thi đấu thể thao. Các công trình có tổng vốn đầu tư giai đoạn đầu là 4,5 tỷ đồng. Giữa trung tâm khu thành, bên gốc đa cổ thụ là ngôi đền thờ Hoàng Công Chất, các bộ tướng và hai thủ lĩnh người dân tộc thiểu số ở địa phương mới được nhân dân trong vùng, tỉnh Thái Bình và dòng tộc họ Hoàng quyên góp xây dựng lại to đẹp hơn trước với kiến trúc điêu khắc đẹp và công phu. Sau khi hoàn thành, đền thường xuyên đón nhiều đoàn khách đến thăm và thắp hương tưởng niệm.

Hình 5.7. Quang cảnh đền thờ trong lễ dâng hương

Hình 5.8. Lãnh đạo địa phương dâng hương trong

Hình 5.9. Nghi lễ trong ngày hội đền

Trong hai ngày lễ hội vừa qua, thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất đã đón hàng nghìn lượt du khách và nhân dân các bản, làng trong tỉnh. Mở màn lễ hội là phần rước kiệu và dâng hương. Đi đầu là đội múa rồng, lân tạo không khí sôi động. Sau các nghi thức, 40 diễn viên trình diễn màn múa cờ hội theo nhịp trống tưng bừng. Tiếp đến là phần biểu dương sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của 60 diễn viên trong trang phục truyền thống, đại diện cho các dân tộc thiểu số tây bắc trình diễn những tiết mục ca, múa nhạc đặc sắc. Độc đáo và lôi cuốn sự chú ý của mọi người là những cô gái Thái với nón, quạt, khăn, ô, kèn, tính tẩu với những bông hoa tươi của núi rừng trên tay trong điệu múa hoa ban và vòng xòe uyển chuyển, đằm thắm, dịu dàng. Nhiều hoạt động văn nghệ, thi đấu thể thao có sự tham gia của đội nghệ thuật quần chúng các xã Na Ư, Pa Thơm, Noọng Hẹt, Thanh Nưa của huyện Điện Biên và các tỉnh bạn Hòa Bình, Sơn La, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Bình. Sân đền và khuôn viên trong thành nô nức người trảy hội và xem các trò chơi dân gian như hái đào tiên, bắt lợn lấy thưởng, đánh đáo đá, tung còn, chơi cờ phạ, thi bắn nỏ, đẩy gậy, kéo co nam, nữ. Còn buổi tối là giao lưu văn nghệ có tổ chức xòe và uống rượu cần, thi giọng hát hay dân ca các dân tộc. Chị Quàng Thị Hoa, Đội trưởng văn nghệ Bản Ten, huyện Điện Biên cho biết: "Năm nào chúng tôi cũng đi dự và biểu diễn ở hội nhưng năm nay lễ hội được tổ chức lớn nhất và có nhiều đội văn nghệ các thôn, bản và các tỉnh cùng tham gia, hội tụ đủ các loại hình nghệ thuật dân tộc".